Đánh tên loài cần tìm vào ô bên dưới để tìm kiếm

Ðang tải...

Chủ nhật, ngày 20 tháng năm năm 2012

Kỹ thuật trồng Xoài Đài Loan

Kỹ thuật trồng Xoài Đài Loan


Kỹ thuật trồng xoài Đài Loan by Giống Cây Trồng | Ky thuat trong xoai Dai Loan

Ưu điểm của xoài Đài Loan là dễ trồng, nhẹ công chăm sóc, khi ra hoa là đậu không vuột nhiều như các giống Hòa Lộc


1. Đặc điểm
Ra quả ngay sau năm đầu tiên, không có hiện tượng ra hoa nhiều nhưng không đậu quả như xoài miền Nam. Quả to trọng lượng trung bình đạt 1,0 - 1,5kg cùi dầy, thịt quả đanh chắc, hạt mỏng, ăn ngọt đậm, đặc biệt ăn xanh cũng ngọt và sức sinh trưởng vượt trội so với các giống xoài khác.

2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
Tuy là một cây dễ tính có tính thích ứng cao với điều kiện sinh thái khác nhau. Nhưng trong thời kỳ đầu của sự phát triển nếu chúng ta tạo được điều kiện thuận lợi như: Trồng trên đất tơi mục, vị trí trồng tương đối cao, đảm bảo đủ ẩm, nhưng thoát nước, vào mùa có nhiệt độ cao thì cây xoài vẫn sinh trưởng và phát triển tốt hơn.

a) Đào hố
Hố có đường kính 80cm, sâu 50 - 60cm. Khoảng cách các hố tuỳ theo giống, điều kiện đất đai, độ dốc của quả đồi có thể bố trí 5x6m, 7x7m hoặc 8x8m.

b) Bón phân
Mỗi hố bón 20 – 30 kg phân chuồng hoai mục. Đất đồi chua bón thêm 0,5 - 1,0 kg lân và 0,5 - 1,0 kg vôi bột cho một hố. Khi cây phát triển tốt thì bón thúc NPK theo tỷ lệ 10:10:20, bón tăng dần theo hàng năm. Mỗi năm có 2 lần bón phân đáng chú ý là trước khi xoài ra hoa và sau khi thu hoạch quả. Nếu gặp năm sai quả thì có 1 lần bón thúc cho quả.

c) Phòng trừ sâu bệnh
- Rầy xanh: Phòng trị bằng cách dùng bẫy đèn khi rầy chưa đẻ trứng, hoặc phun nước xà phòng 5g/l vào lúc cây ra hoa cách 2 - 4 ngày/lần. Tránh dùng nồng độ cao để không ảnh hưởng đến hoa. Hoặc có thể dùng Bsssa, Mipcin, Applaud, Azodrin, Trebon, Sevin nồng độ 0,15 - 0,20% để phun 2 - 3 lần, cách 5 - 7 ngày/lần.

- Rệp sáp, rệp dính Rệp sáp, rệp dính: Rệp chích hút nhựa ở lộc non, các nhánh và cuống quả xoài. Đây cũng là hai loại rệp sáp chích hút trên cam quýt. Dùng Supracid 0,1%, Dimecron, Bi58, Hostathion với nồng độ 0,2% hoặc Polysulfua canxi 0,50bômê để phun.

- Sâu đục thân, đục cành: Phòng trừ, tránh tạo vết thương cơ giới trên cây nhơ cách dùng dao băm gốc kích thích cây ra hoa; Dùng bẫy đèn để diệt sâu trưởng thành; Tiêm vào lỗ đục các loại thuốc có tính xông hơi mạnh như Methyl parathion, Thiodan, Diazinon,… và bịt các lỗ đục bằng đất sét để diệt sâu non. Cần phát hiện các cành non bị sâu đục và đẻ trứng, cắt bỏ các cành này đem đốt để diệt sâu non ở bên trong.

- Ruồi đục quả: Ruồi cái đục vỏ quả đã già, đẻ trứng dưới lớp vỏ. Trứng nở thành sâu non, sâu non ăn thịt quả, gây thối và rụng quả. Phòng trừ bằng cách không để quả chín trên cây; Phun Azodrin 0,1%, Bassa 0,25%, Bi58 0,1% hoặc dùng bả dẫn dụ ruồi như dứa, cam, quýt, chuối chín hay chất Methyleugienol trộn với thuốc sát trùng không có mùi hôi (Furadon, Azodrin, Malattion…) làm bẫy để diệt; Cũng có thể dùng phương pháp bao quả bằng bao gấy cũng ngừa được sự chích hại của ruồi vàng.

3.Thu hoạch
- Tuỳ theo mục đích sử dụng để hái, nếu dùng tại chỗ thì để chín vàng trên cây, quả lúc này đạt chất lượng cao; Nếu phải mang đi xa hoặc xuất khẩu thì phải hái sớm hơn khi quả đã già (vai quả vượt xa đầu núm, quả phồng lên, chiều dày tăng). Nên hái quả vào ngày nắng ráo. Cắt quả vào lúc trời râm mát, nếu hái vào ngày mưa khả năng bảo quản và vận chuyển sẽ kém.

- Quả hái về cho vào phòng chứa một ngày đêm để quả tiếp tục hô hấp “ra mồ hôi”, sau đó dùng khăn ướt lau sạch và phân loại. Nếu phải chở đi xa thì cho vào sọt tre hoặc hòm cactông hay hòm gỗ xếp thành từng lớp, tối đa không quá 5 lớp, ở đáy sọt (hay hòm gỗ) lót một lớp rơm hay giấy xốp, giữa các lớp xoài lót thêm lớp giấy mỏng, từng quả cần được bọc thêm lớp gấy mỏng.

- Trong quá trình bảo quản và vận chuyển dễ bị bệnh thán thư và thối cuống quả làm cho quả bị thối. Để ngăn ngừa dùng nước nóng 52 độ C trong 15 phút sau đó ngâm thêm 3 phút trong dung dịch 2 - 4% NaB4O7 rồi vớt. Cũng có thể dùng xe lạnh giữ ở nhiệt độ 5,5 – 11 độ C, độ ẩm không khí 85 - 90% thì có thể bảo quản được 4 - 8 tuần. Sau đó lấy ra, để ở điều kiện nhiệt độ bình thường trong phòng để thúc cho quả chín. Làm như vậy quả giữ được màu sắc và phẩm chất tươi ngon.

Kỹ thuật trồng Lan Hài

Kỹ thuật trồng Lan Hài


Kỹ thuật trồng Lan Hài by Giống Cây Trồng | Ky thuat trong lan hai

Lan Hài được chia thành 2 nhóm: nhóm lá có gân nổi như vân cẩm thạch thích khí hậu ôn hòa; nhón có lá trơn thích vùng nóng ẩm. Chúng cho hoa với các kích cỡ khác nhau, từ bông nhỏ đường kính 5 cm đến những bông lớn hơn 20 cm. Tất cả đều có cuống dài và mập mạp. Lan Hài là loài hoa lí tưởng để trồng trong vườn nhà, trổ hoa hàng năm với số lượng bông ngày càng tăng. Hoa ưa nhiệt độ nóng ẩm. Cần tưới ẩm cây ít nhất 1 lần 1 ngày trong mùa hè nhưng tuyệt đôi không để nước đọng lại nơi gốc và rễ cây qua đêm, chúng sẽ thối mục với tốc độ ánh sáng.


1. Về ánh sáng
Paphiopedilums thích ánh sáng nhưng cũng chịu được bóng râm suốt mùa ươm trồng. Bạn cũng không nên phơi chúng cả ngày dưới nắng để tránh bị cháy sém. Và luôn nhớ ưu tiên lan Hài một vị trí đủ ánh sáng trong mùa đông.

2. Về nước tưới
Lan Hài cần độ ẩm đều và liên tục nhưng không thể chịu nỗi tình trạng ướt sũng một phút nào. Người đẹp này khó tính và cần bạn quan tâm chăm sóc hơn các loài hoa khác. Có thể tưới 1 tuần một lần hoặc nhiều hơn nếu trời nóng bức và cây có dấu hiệu khô.

3. Về phân bón
Không cần phải bón phân nhiều cho Paphiopedilums, chỉ cung cấp NPK cho cây 4 – 6 tuần 1 lần trong mùa đông và 2 tuần 1 lần khi vào hè.

4. Về giá thể (chậu trồng)
Vào đầu xuân hàng năm cần thay chậu và phân nhánh cho lan Hài để kích thích cây ra chồi mới. Chậu cây để lâu ngày sẽ tích mùn và rêu mốc – nguyên nhân làm nước ứ đọng trong chậu. Bạn thay mới hỗn hợp vỏ cây, than củi, xơ dừa để sự thoát nước cho rễ cây được đảm bảo.

5. Thời gian ra hoa
Hầu hết lan Hài cho hoa vào mùa Đông và Xuân. Chúng thường bắt đầu với chỉ một bông trên cành hoa mập mạp và khỏe khoắn, vài bông hoa khác sẽ nối tiếp nhau xuất hiện trong 1 vài … tuần sau và có thể kéo dài vài ba tháng.

Thứ bảy, ngày 19 tháng năm năm 2012

Tìm hiểu về cá Betta Plakat Thái

Tìm hiểu về cá Betta Plakat Thái


Tìm hiểu về cá betta plakat Thái by ST | Tim hieu ve ca betta plakat Thai

Có ba giai đoạn về sự phát triển của Plakat Thái. Giai đoạn đầu tiên liên quan đến cá đá hoang dã. Giai đoạn thứ hai liên quan đến việc lai tạo cá đá hoang dã và cả cá lai. Giai đoạn cuối cùng là tích lũy kiến thức về việc làm thế nào để lai tạo thành công cá Betta thuần dưỡng hay Plakat Thái hiện đại.


1. Tìm hiểu về cá đá
Trong khi khảo sát về những đặc trưng của trò đá cá ở Thái Lan, chúng tôi phát hiện ra rằng trò giải trí này được phát sinh và lan rộng ở mọi vùng đất nước. Chúng tôi có thể lần ngược về quá khứ thông qua những lời truyền khẩu mà một nhà lai tạo thừa hưởng từ tổ tiên của mình cách nay khoảng 200 năm, vào thời mà thủ đô Bangkok mới bắt đầu được thành lập. Điều này có nghĩa người Thái đã chơi cá đá từ trước đó. Chúng ta cũng phải cân nhắc đến môi trường xã hội và chính trị vào thời buổi chiến tranh loạn lạc ấy. Người ta bắt cá Betta ngoài đồng lúa để đá với những con tương tự khác mà không hề có khái niệm về sự khác biệt giữa các loài, hay làm thế nào để lai tạo ra cá đá (như chúng ta biết ngày nay, loài cá đá địa phương ở miền Nam là Betta imbellis, ở miền Trung là Betta splendens, còn ở miền Tây Bắc là Betta smaragdina). Có hai bước để học cách đá cá:

- Bước thứ nhất: Làm sao phân biệt được cá Betta với các loài cá khác. Người nông dân để ý cách chúng giương vây và đá nhau khi họ làm việc ngoài đồng. Cá Betta tạo những ổ bọt ngay trên các luống của ruộng lúa. Trẻ em thường bắt chúng ở đó và đem về nuôi trong lọ thủy tinh. Nông dân thường đem cá ra đá vào buổi chiều, lúc rảnh rỗi rồi sau đó lại thả cá về đồng. Một số trẻ em nuôi cá chỉ để làm cảnh. Ban đầu, trò đá cá chỉ diễn ra giữa bạn bè trong làng. Rồi thông qua các cuộc thách đấu và đá độ mà trò này nhanh chóng được chấp nhận và yêu thích một cách rộng rãi, từ làng này sang làng khác.

- Bước thứ hai: việc thách đấu giữa các làng và các vùng. Trò đá cá trở nên phổ biến hơn khi mà việc thắng hay thua trận trở thành cả một sự kiện. Dần dần phong trào đá cá sản sinh ra những chuyên gia lai tạo và những con cá vô địch. Cũng từ đây mà hình thành ý tưởng làm thế nào để tạo ra con cá đá có thể chiến thắng cá đối thủ. Tuy nhiên, đa số mọi người không quá quan tâm đến vấn đề lai tạo cá đá. Họ chỉ cần biết nơi đâu có bán cá đá chất lượng là đủ. Họ cũng có thể thả con cá thắng trận ở một nơi nhất định rồi sau đó quay lại thu hoạch cá con đem đi đá.

2. Quá trình lai tạo cá đá hoang dã và cá lai
a) Tuyển chọn cá đá hoang dã
Sự xuất hiện những con cá đá tốt nhất là cơ sở để những người nông dân tuyển chọn ra những dòng cá đá. Người ta lấy tên vùng để đặt tên cho những con cá được tuyển chọn tốt nhất. Nhiều người cũng sục sạo vùng đó để kiếm cá hay đôi khi đề nghị người chủ đất bán cá cho họ. Động cơ thắng trận được xem như là yếu tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của trò đá cá. Trong giai đoạn này, người ta thả con cá thắng trận cùng với một số cá cái ở một nơi nhất định rồi quay lại vào năm sau để thu hoạch lứa cá con. Nguyên tắc tuyển chọn cá đá hoang dã này vẫn còn được áp dụng cho đến tận ngày nay.


b) Thuần dưỡng cá đá hoang dã
- Bối cảnh của trò đá cá hoang dã như mô tả ở trên diễn ra khi người ta còn coi đó như là một trò chơi, thậm chí còn chưa được coi là một sở thích. Tuy nhiên, ngay trò chơi cũng có con đường phát triển của riêng nó. Khi người ta tham gia cuộc chơi một cách nghiêm túc, cố trở thành người thắng cuộc và kiếm tìm sự nổi tiếng cùng với giải thưởng và tiền bạc; tất cả trở thành động lực cho việc tạo nên những con cá đá ngày càng tốt hơn. Việc lai tạo cá đá bắt ngoài tự nhiên sẽ cho kết quả không đảm bảo, ngay cả cá đá lấy từ những vùng đặc biệt cũng không đủ mức độ tin cậy. Trò đá cá trở nên khắc nghiệt và quan trọng hơn khi người ta cá cược nhiều tiền hơn. Một khi người tham gia muốn thắng trận thì họ phải kiểm soát tốt chất lượng cá đá của mình; tức là họ phải kiểm soát cá giống bố mẹ và môi trường lai tạo. Vì vậy nhà lai tạo bắt đầu lai tạo cá của mình trong các hố đào dưới đất, từ đó dần dần hình thành nên dòng cá thuần dưỡng. Ý tưởng cơ bản này được xem như là bước đầu tiên trong việc hình thành cá đá Xiêm hiện đại hay Plakat Thái, tức từ thiên nhiên thâm nhập vào xã hội loài người. Mục đích đàng sau việc lai tạo cá thuần dưỡng là tạo ra cá đá có chất lượng và đủ nhiều để bán và chia xẻ với bạn bè. Bởi vì hoạt động đá cá diễn ra quanh năm, tôi nghĩ điều này thuận lợi cho việc kinh doanh và lai tạo hàng loạt khi nhu cầu thị trường tăng lên. Ở giai đoạn này, một số người lai tạo cá thuần dưỡng sao cho bề ngoài giống như cá đá hoang dã, để rồi lại đem đi đá với cá hoang dã. Việc kiểm soát môi trường và hoạt động lai tạo phải được thực hiện một cách bí mật và phải tương tự với môi trường sinh sống tự nhiên của cá hoang dã. Mục đích của điều này là để đánh lừa và đả bại cá của đối phương. Nó dẫn đến sự cạnh tranh theo hai hướng; một là trò đá cá thực sự diễn ra giữa cá đá với nhau và một là sự cạnh tranh giữa những người chơi cá. Tôi thích loại thứ hai hơn; tức là quá trình mà nhà lai tạo tìm tòi phương thức lai tạo ra những con cá có thể đá bại cá của nhà lai tạo khác. Bấy giờ là lúc cá đá Xiêm bắt đầu phát triển thực sự.


- Ban đầu, nhà lai tạo chỉ muốn lai tạo cá đá trông giống như cá hoang dã nhưng lại khỏe mạnh và lì đòn để đá thắng cá của đối phương. Vào thời đó tôi không nghĩ có người có thể tưởng tượng ra loại cá đá đuôi ngắn (tức loại cá đá tuyển dữ nhất bây giờ). Loại cá đá tuyển chỉ xuất hiện sau rất nhiều thế hệ tuyển chọn cá đá hoang dã cho đến khi nó không còn giữ được màu sắc và hình dạng nguyên thủy nữa. Các thế hệ cá đá được thuần dưỡng lâu đời có kích thước lớn hơn, màu sậm hơn, dế nuôi và dạn dĩ với sự hiện diện của con người hơn. Dưới bàn tay con người, diện mạo cá đá liên tục bị biến đổi triệt để cho đến khi chúng không còn mang hình dạng nguyên thủy nữa. Cá hoang dã không còn có khả năng đá thắng cá thuần dưỡng về mọi phương diện. Điều đó có nghĩa, cá đá hoàn toàn chia làm hai nhóm. Nhóm cá hoang dã (Plakat Pah) và cá lai (Pla Sung) và nhóm cá thuần dưỡng (Plakat Morh). Những nhóm cá này vẫn còn được duy trì ở nhiều trường đá cá ngoại ô Bangkok ngày nay. Sự thay đổi triệt để về hình dạng không chỉ ảnh hưởng đến lối đá của cá mà còn tác động mạnh mẽ đến thế giới cá đá Xiêm dưới phương diện cá cảnh.

c) Lai tạp
- Cá đá lai là kết quả của việc lai tạp giữa cá đá hoang dã với cá đá thuần dưỡng rặt. Tôi sử dụng cụm từ “cá đá thuần dưỡng rặt” đối với những con cá mà cha mẹ của chúng cũng là cá đá thuần dưỡng. Việc tìm ra cặp cá giống tốt là điều vô cùng khó khăn đối với nhà lai tạo, đặc biệt là khi họ muốn cá của mình đá bại cá của đối phương. Việc gia nhập cũng như trao đổi những con cá tốt nhất đến từ miền Nam, miền Đông Bắc và miền Trung của Thái Lan thường được thực hiện cùng với sự thiếu hiểu biết về sự khác biệt giữa các loài cá đá thuần chủng. Hoạt động lai tạo diễn ra mạnh mẽ nhất ở Bangkok và các vùng ngoại ô bởi vì hoạt động đá cá ở đây mang nhiều tính thách thức hơn, tiền đặt cược nhiều hơn và cộng đồng chơi cá cũng đa dạng hơn.

- Cá lai cũng có chiến lược lai tạo định sẵn; nhà lai tạo muốn tạo ra con cá trông giống như cá đá hoang dã nhưng lại thừa hưởng mọi ưu điểm của cá đá thuần dưỡng. Tuy nhiên, chúng cũng chỉ để đá trong thời gian ngắn, khoảng 30 phút mà thôi. Cá đá hoang dã đá nhanh hơn thế nhiều hay đôi khi còn không chịu đá. Cá đá lai phát triển thành một bước độc đáo riêng trong quá trình lai tạo cá đá.

- Cá đá lai có thể được tìm thấy trên mọi miền đất nước, ở những nơi có hoạt động đá cá. Nhà lai tạo sử dụng cá đá địa phương để lai với con cá đá cực giỏi. Chẳng hạn, người vùng Đông Bắc Thái Lan có thể đem con cá Betta splendens tốt nhất để lai với con cá đá địa phương Betta smaragdina tốt nhất của họ. Người miền Nam lai cá Betta imbellis với cá Betta splendens. Chỉ có thể khẳng định rằng, con cá đá đầu tiên được lai tuyển chọn là loài Betta splendens ở miền Trung Thái Lan; đâu đó giữa cố đô Ayuthaya, vùng Padrew nay là tỉnh Cha Chueng Sao và vùng Mahachai nay là tỉnh Sa Mut Sa Khon.


- Có hai loại cá lai là cá lai hoang dã và cá lai thuần dưỡng. Theo tôi thấy cá lai hoang dã được những người đá cá dễ chấp nhận hơn bởi vì nhà lai tạo chỉ thả chúng vào môi trường tự nhiên và để thiên nhiên đào luyện chúng trở thành cá đá tốt. Nhà lai tạo thả cá giống hay thậm chí cá con vào một khu vực riêng biệt và để chúng tự sinh sản một cách tự nhiên.

3. Lai tạo cá đá thuần dưỡng rặt
“Cá đá thuần dưỡng rặt” có nghĩa là bầy cá được sinh ra từ cặp cá giống thuần dưỡng. Cá được phát triển lối đá một cách có chủ ý theo phương pháp của người huấn luyện. Cá đá thuần dưỡng rặt ngày nay được biết như là loại cá đá đuôi ngắn đang lưu hành trên thị trường. Cá đá thuần dưỡng rặt có nguồn gốc từ các loài Betta hoang dã. Ngoài trường đá cá, người ta không coi cá đá thuần dưỡng là cá đá hoang dã thực thụ bởi vì những khác biệt về kích thước, hình dáng, màu sắc và kỹ năng chiến đấu. Tôi cho rằng đến lúc này thì sự tồn tại của cá đá thuần dưỡng không còn giữ bí mật được nữa. Bấy giờ, trường đá cá hình thành hai thể loại. Loại đầu là đá cá hoang dã (gồm cả cá lai). Trong thể loại này, người ta cố gắng lai tạo cá đá trông giống như cá hoang dã nhưng đá nhanh và lì đòn hơn. Loại thứ hai là đá cá thuần dưỡng rặt theo đó người ta cố gắng phát triển kỹ năng đá và cấu trúc cơ thể theo chủ ý của nhà lai tạo. Do vậy mà ngày nay mới có nhiều dạng cấu trúc cơ thể ngoài trường đá cá. Tôi chia Plakat Thái thành 3 dạng cấu trúc cơ bản là dạng bản lóc, dạng bản rô và dạng bản thát lát. Theo tôi thì sự hình thành dạng cá đá đuôi dài là giai đoạn thứ tư trong quá trình phát triển của Plakat Thái. Vẻ đẹp của cá đá đuôi dài được chào đón trong lãnh vực cá cảnh. Ý tưởng lai tạo các dòng cá theo hướng này hay hướng kia chỉ tập trung vào mục đích tạo ra cá đẹp mà thôi. Kể từ đó, Plakat Thái đuôi dài phô trương sắc đẹp của chúng trên các thị trường cá cảnh khắp thế giới.

Video Kỹ thuật nuôi Gà Ri

Video Kỹ thuật nuôi Gà Ri


Video Kỹ thuật nuôi gà ri by ST | Video ky thuat nuoi ga ri

Để giúp người nuôi gà ri (gà ác) có thêm thông tin cũng như kinh nghiệm về Kỹ thuật nuôi gà ri chúng tôi xin giới thiệu Video Kỹ thuật nuôi gà ri đến với đọc giả.

video

Kỹ thuật trồng Lan trên gỗ lũa

Kỹ thuật trồng Lan trên gỗ lũa


Kỹ thuật trồng Lan trên gỗ lũa by Hội QTU | Ky thuat trong lan tren go lua

- Trong những chuyến về thăm quê hương vừa qua, tầm mắt của chúng tôi được thêm mở rộng trước những đoá hoa lan xinh đẹp của quê hương mà trước đây chỉ nhìn thấy trên hình ảnh.


- Ngắm nhìn những bông hoa trong hình ảnh chỉ cho ta ấn tượng nào đó nhưng không thể nào cho chúng ta thưởng thức vẻ đẹp toàn diện cả hương lẫn sắc của một bông lan thực thụ. Cảm giác này cũng như xem một thiếu nữ trong tranh vẽ hay môt bức ảnh chân dung, khác xa với việc chiêm ngưỡng tận mắt dung nhan và duyên dáng cũa mỹ nhân.

- Nhưng vẻ đẹp của mỹ nhân và hoa lan tại tuỳ thuộc một phần nào vào khung cảnh chung quanh. Đoá lan hoang dã mọc trên cây hay được gắn vào dù sao cũng có một vẻ đẹp thiên nhiên hơn là lan trồng trong chậu. Cùng một cây lan chúng ta hãy xem bức nào có vẻ đẹp tự nhiên hơn.

- Thời gian qua Hội Hoa Lan Việt Nam đã trình bày cách trồng lan trên cành nho khô mang tích cách phối hợp nghệ thuật với việc trồng lan. Hình bên là khóm Dendrobium lindleyi trồng chung với vài giống cây thuộc loại cây cần ít nước (succulant).

- Trong dịp về thăm đất nước năm 2009, chúng tôi thấy biết bao nhiêu sản phẩm bằng gỗ lũa rất đẹp đẽ nhưng đó chỉ là những vật dụng như bàn ghế hay các đồ trang trí. Gỗ lũa là những thân cây, rễ cây chôn vùi trong đất hoặc bỏ ngoài nắng mưa, sương gió dãi dầu. Đặc biệt là hình dáng và mầu sắc cũa gỗ lũa rất đẹp, rất có mỹ thuật. Các nghệ nhân thường căn cứ vào hình dáng nguyên thuỷ để tạo cho mình hay cho thiên hạ một tác phẩm độc đáo.

- Mặc dầu gỗ lũa là một thứ gỗ dù bao nhiêu năm mà vẫn không mục, nhưng gỗ lũa rất đắt cho nên ít người nghĩ đến việc trồng lan trên gỗ lũa.

- Nhưng tháng 3 vừa qua khi lên thăm các bạn trong CLB hoa lan Điện Biên, tại nhà anh Lê Văn Chiến chúng tôi đã ngỡ ngàng khi thấy bộ bàn ghế bằng gỗ quá lớn và lại càng kinh ngạc hơn là ngoài sân đầy những cây gỗ lũa khồng lồ với biết bao nhiêu lan trên đó.


- Qua nhà anh Hà khắc Hiểu, một miếng gỗ lũa thiệt đẹp còn dựa bên góc tường, chắc chủ nhân còn đang lưỡng lư xem nên trồng cây gì trên đó.

- Tới Ban Mê Thuột, khi thăm vườn lan của anh Cao bá Hảo cũng có khá nhiều lan trồng trên cành cây và trên gỗ lũa.

- Nhưng khi tới thăm vườn của anh Lê trọng Châu tại Đà Lạt, chúng tôi mới thấy rất nhiều tác phẩm nghệ thuật về trồng lan trên gỗ lũa của anh. Trước đây anh Châu cũng cống hiến cho chúng ta cách trồng cây trên giây thừng, trên thớt gỗ hoăc trên những tai nấm Linh Chi. Nay anh lại trình bấy một số lan trồng trên gỗ lũa, xin mời các bạn hãy thưởng thức các tác phẩm mới của Lê trọng Châu:


- Anh Châu cho biết anh vẫn chọn gỗ lũa để trồng, hầu như tất cả các giống như giồng Bulbophyllum, Dendrobium, Chiloschista, Coelogyne, Eria, Phalaenopsis. Theo anh rất nhiều giống lan có thể trồng trên gỗ lũa được, cái chính là tự mỗi người phải tạo độ ẩm trong vườn lan sao cho phù hợp. Riêng những giống lan chịu ẩm cao khi trồng trên gỗ lũa, đòi hỏi người trồng phải siêng năng chăm tưới nói chung là quan tâm đến nó nhiều một tí thì sẽ có kết quả tốt.

- Khi chọn được gỗ lũa thích hợp, chúng ta cần có 1 búa nhỏ, 1 kéo nhỏ, 1 kéo cắt cành, 1 kềm nhọn, 1 kềm mỏ bằng, 1 máy bắm ghim gỗ (loại mà người ta hay dùng để làm ghế sofa) 1 cuộn dây dù (tùy theo cây lan mà chọn loại dây lớn hay nhỏ). Dưới đây là cách anh gắn cây trên gỗ lũa:


- Những cây lan mới trồng thường thì chỉ phun sương, và nên sử dụng thuốc kích thích rễ hàng tuần. Về thuốc kích thích rễ ta có thể sử dụng loại B1 cho đến khi cây đã cứng lá và rễ non bắt đầu nhú ra, cần phải chú ý phải để ý đến chuyện nấm bệnh.


+ Dùng mấy bắn ghim cố định 1 đầu dây.
+ Để một ít dớn (Sphangum moss) mềm lên thân gỗ vào chổ vị trí trồng lan.
+ Đặt bụi lan lên trên miếng dớn.
+ Dùng đầu dây đã cố định ở bước 1 kéo ngang qua bụi lan, dùng mấy bắn ghim cố định đầu dây.
+ Ta cứ tiếp tục dùng dây cố định cho đến khi bụi lan không còn xê dịch được nữa là coi như hoàn tất.

Kinh nghiệm chăm sóc Cà Chua vụ nghịch

Kinh nghiệm chăm sóc Cà Chua vụ nghịch


Kinh nghiệm chăm sóc cà chua vụ nghịch by BV Cây Trồng | Kinh nghiem cham soc ca chua vu nghich

Để giải vụ thu hoạch quả, nhiều bà con nông dẫn đã sử dụng một số giống cà chua trái vụ để trồng cả vụ sớm lẫn vụ muộn và đã cho lợi nhuận cao gấp 2 - 3 lần so với cà chua chính vụ. Tuy nhiên, do tác động của các yếu tố thời tiết không thuận lợi nên cà chua trái vụ rất khó trồng, hay bị nhiều bệnh gây hại như: héo rũ, héo xanh, vàng lá, thối quả…Chăm sóc cà chua trái vụ đúng kỹ thuật là một trong những phương pháp để cà chua sạch bệnh và cho năng suất cao.


1. Làm giàn
Cắm giàn ngay sau khi trồng (đối với đất phủ nilon) hoặc cắm khi cây cao 50 – 60 cm (đối với đất phủ rơm rạ).

2. Phân bón
- Dùng phân hỗn hợp NPK. Giai đoạn đầu cây sinh trưởng chậm, phải bổ sung lượng nhỏ phân đạm và lân. Có thể kết hợp phun phân bón lá có hàm lượng các chất trung và vi lượng cao hoặc chứa các axit amin như Agrodream, WEHG…

- Lượng phân bón cho 1 sào như sau:
+ Bón lót: trước khi trồng 3 - 7 ngày, vãi đều phân trên mặt đất trước khi lên luống 300 kg phân chuồng hoai mục + 15 kg lân Lâm Thao + 2 kg kali trộn đều hoặc 150 kg hữu cơ vi sinh bón vào hốc.
+ Bón thúc: Bón thúc lần 1: sau khi trồng 3 ngày, bón 30 - 40 kg phân vi sinh Biogro hoặc tưới các chế phẩm kích thích ra rễ xung quanh gốc. Bón thúc lần 2: sau khi trồng 15 ngày, dùng 1 kg urê + 2 kg NPK đầu trâu hoà nước tưới xung quanh gốc.Bón thúc lần 3:sau trồng 35 ngày. Bón lần 4 sau trồng 60 ngày; lần 5 sau trồng 70 - 80 ngày đối với cây sinh trưởng vô hạn. Lượng bón cho mỗi lần: 1 kg urê + 1 kg kali +2 kg NPK đầu trâu hoà nước tưới xung quanh gốc).

3. Tưới nước và tỉa chồi
- Sau khi trồng phải tưới nước ngay, dùng gáo tưới cách hốc từ 7 - 10 cm cho đến khi cây hồi xanh hoàn toàn. Khi cây bắt đầu sinh trưởng mạnh, tưới rãnh từ 7 - 10 ngày/lần.

- Tỉa bỏ tất cả các chồi nhánh trên thân chính, chỉ giữ các chồi nhánh mọc dưới nách lá xuất hiện chùm hoa đầu tiên. Khi trên cây đạt số chùm hoa cần thiết thì bấm ngọn và những chồi nách không cần thiết.

4. Kích thích đậu trái
Trong điều kiện trồng cà chua trái vụ, sử dụng thuốc đậu quả như CPA, GA3 nồng độ 10 - 15 ppm để phun hoặc nhúng lên chùm hoa. Trong quá trình phun, chú ý không để thuốc bắn lên ngọn sinh trưởng của cây.

5. Phòng trừ sâu bệnh
- Cần làm sạch cỏ dại, ngắt bỏ lá già, nhổ cây bị sâu, luân canh với cây trồng họ khác. Dùng thuốc trừ sâu bệnh như: Rhidomin, Benlat, Sherpa…, chú ý nên luân phiên thay thuốc trừ sâu để sâu không quen thuốc. Ngừng phun khi chuẩn bị thu quả.

- Bà con chú ý phun theo nồng độ, liều lượng ghi trên bao bì sản phẩm. Nếu trên ruộng xuất hiện cả sâu, bệnh, có thể kết hợp phun thuốc sâu và thuốc bệnh, không pha chung các thuốc gốc đồng như Kocide, Champion.

Thứ sáu, ngày 18 tháng năm năm 2012

Kỹ thuật trồng hoa Cát Tường

Kỹ thuật trồng hoa Cát Tường


Kỹ thuật trồng hoa cát tường by Cây Xanh VN | Ky thuat trong hoa cat tuong

Hoa Cát tường là loại hoa đẹp không những có hình dáng hoa thanh lịch giống hoa hồng mà còn có bộ lá xinh xắn, đa dạng về màu sắc và chủng loại. hoa có nguồn gốc từ miền tây của nước Mỹ. Hiện tại đang là giống hoa đang được nhiều người ưa chuộng và thị trường tiêu thụ chấp nhận.


I. Vị trí phân loại
- Ngành: Magnoliophyta

- Lớp: Magnoliopsida

- Lớp phụ: Asteridae

- Bộ: Gentianales

- Họ: Gentianaceae

- Giống: Eustoma

- Tên khoa học: Eustoma grandiflorum

- Tên khác: Lisianthus, Prairie Gentian, Texas bluebell, Tulip Gentian, Bluebell, Lire de san pedro.

II. Đặc điểm sinh trưởng
- Hoa cát tường là loài hoa dại có nguồn gốc từ Bắc mỹ. Là loài cây có khả năng chịu rét tương đối trên đồng cỏ và được biết đến với nhiều màu sắc khác nhau,
có loại cánh đơn và cánh kép.

- Màu nguyên thủy là màu xanh, dần dần đã có sự xuất hiện đa dạng về màu sắc như hồng, trắng, trắng pha tím, trắng pha hồng, ...

- Đây là loài hoa khá thanh lịch không chỉ được bán như các loại hoa cắt cành mà còn được biết đến dưới dạng hoa chậu nghệ thuật.

- Hoa Cát tường phát triển tốt ở điều kiện 70 – 80 Klux (ánh sáng tự nhiên). Do vậy vào mùa xuân hay mùa hè có cường độ ánh sáng cao nên thường phải che lưới cho hoa. Hoa cát tường thích hợp với vụ dài ngày, có số giờ chiếu sáng trong ngày tối ưu là 16 giờ trong ngày thì sẽ cho chất lượng bông cao nhất.

- Nhiệt độ tối thích cho hoa cát tường sinh trưởng và phát triển là từ 18 – 20 độ C vào ban ngày và 15 – 18 độ C vào ban đêm. Nhiệt độ vào ban đêm thấp hơn 15 độ C sẽ làm trì trệ quá trình sinh trưởng của cây. Vào ban ngày khi nhiệt độ cao hơn 28 độ C sẽ làm cho hoa nở sớm, rút ngắn quá trình sinh trưởng của hoa và cho hoa kém chất lượng. Tùy theo từng chủng loại giống mà có yêu cầu về nhiệt độ và quang chu kỳ khác nhau, do vậy trước khi trồng nên tìm hiểu chủng loại giống mà bố trí mùa vụ thích hợp.

- Độ ẩm khoảng 70% được xem là lý tưởng nhưng sau khi nụ đầu tiên được hình thành thì việc giảm độ ẩm xuống dưới 70% sẽ làm gia tăng chất lượng của hoa.

- Tính cả thời gian từ lúc gieo hạt cho đến khi cây ra hoa là từ 20 – 23 tuần.

III. Các chủng loại hoa Cát tường
1.Giống hoa kép


1. Nhóm Avilia: nhóm này thích hợp ở điều kiện ánh sáng yếu và nhiệt độ mát. Do vậy nhóm giống này thường trồng vào vụ đông. Các màu thường là trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen, đỏ tía.

2. Nhóm Balboa: nhóm này thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sáng cao hơn. Phug hợp trồng vụ xuân đến hè. Phát triển tốt ở điều kiện quang chu kỳ ngày dài. Các màu thường là xanh, viền xanh, xanh tía.

3. Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện ngày dài và thời tiết ấm áp. Các màu thường là xanh tía và màu vàng.

4. Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu kỳ ngày ngắn. Nhóm này cho hoa nở đồng loạt và có nhiều màu để chọn lựa.

5. Nhóm Echo: Nhóm này là nhóm phổ biến trong giống hoa cát tường.Không thích hợp với cường độ ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho vụ đông xuân. Các màu phổ biến trong giống này là xanh bóng, xanh tía, hồng, hồng tía, trắng tuyền.

6. Nhóm Mariachi: Nhóm này thích hợp trồng trong chậu. Đặc điểm giống này là có số cánh hoa nhiều, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên nhìn rất đẹp. Các màu phổ biến trong giống này là trắng, hồng, hồng nhạt, xanh…

2. Giống hoa đơn
1. Nhóm Flamenco: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ ngày dài. Thân hoa dài và mạnh. Các màu là xanh bóng, hồng, vàng, trắng.


2. Nhóm Heidi: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu kỳ ngày ngắn. Có nhiều màu để chọn lựa.

3. Nhóm Laguna: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ ngày dài. Thân hoa dài khoảng 48 cm, một cây trung bình có 3 thân và 25 nụ hoa. Có 02 màu là xanh đậm và xanh tía.

4. Nhóm Malibu: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và trong mùa xuân và mùa thu. Có nhiều màu là hoa cà, xanh đậm, trắng, hồng, trắng viền xanh.

5. Nhóm Yodel: Thân hoa dài khoảng 45 – 50cm. Có nhiều màu là xanh đậm, xanh, hoa cà, hồng phấn, hồng, trắng.

IV. Kỹ thuật trồng hoa Cát tường
1.Ươm giống
Hạt giống hoa cát tường tương đối nhỏ (khoảng 19.000 hạt/gam) nên khó gieo trực tiếp ra đồng. Thường gieo vào vỉ xốp loại 200 lỗ. Gía thể dùng ươm thường là 30% xơ dừa + 30% đất mùn + 25% đất Feralit đỏ (đất mới) + 5% super lân và 10% phân chuồng ủ hoai mục. pH của giá thể vào khoảng 6 – 6,5. Sau khi gieo vào giá thể cần giữ ẩm thường xuyên để hạt nảy mầm và phát triển. Nhiệt độ thích hợp cho quá trình nảy mầm của hạt là 20 – 22 độ C. Quá trình nảy mầm diễn ra trong vòng từ 10 – 20 ngày. Nhiệt độ của nhà ươm cây không nên vượt quá 22 độ C. Nhiệt độ tối ưu cho cây con phát triển vào khoảng 15 – 18 độ C. Giữ độ ẩm giá thể vào khoảng 70 – 80%, không nên tưới nhiều làm ẩm độ quá cao cây con sẽ dễ bị nhiễm bệnh. Chăm sóc hàng ngày và phun thuốc định kỳ tuần/lần các loại thuốc diệt nấm như Zinep, Kasuran ……… và các loại thuốc diệt sâu như Sumi anpha, Regent, Pegasus… Cần tạo sự thông thoáng trong nhà ươm để giá thể không bị ẩm độ quá cao sau khi tưới.Khoảng 3 tháng sau khi gieo, cây có 2 - 3 bộ lá thì có thể xuất vườn ươm để trồng ra ngoài đồng.

2.Chuẩn bị đất trồng
hoa cát tường có thể phát triển tốt trên nền đất có hàm lượng chất hữu cơ cao (đất bón phân chuồng hoai mục nhiều). Trước khi trồng đất cần được cày phơi ải, xử lý vôi và thuốc phòng trừ tuyến trùng, sên nhớt như Furadan… Sau khoảng 2 – 3 tuần phơi ải và xử lý đất, dùng phân chuồng đã ủ với chế phẩm Trichoderma và Super lân 5% vào thời điểm khoảng 1 tháng trước đó bón với lượng 10 m3/1.000 m2. Bổ sung thêm một lượng phân khoáng NPK (16:16:8) : 50 kg//1000 m2. Độ pH thích hợp từ 6,3 – 6,5. Rãi phân đều trên mặt luống, trộn và xăm trộn đều trên tầng đất mặt (20 – 30 cm) và tiến hành trồng cây.

3. Mật độ và khoảng cách trồng
- Thiết kế rò rãnh 1,3 m, luống cao 15 – 20 cm để tạo độ thông thoáng . Trên mặt luống trồng từ 5 – 6 hàng với hàng cách hàng khoảng 15 – 18 cm, trên mỗi hàng trồng cây cách cây từ 10 – 12 cm. Mật độ trồng đạt khoảng 50 – 60 cây/m2. Vào mùa mưa có thể trồng thưa hơn để hạn chế bệnh phát triển và lây lang.

- Trong quá trình trồng chọn lựa những cây có bộ rễ phát triển tốt, lấy cây nhẹ nhàng ra khỏi vỉ xốp hạn chế tối đa việc làm thương tổn bộ rễ cây con và bể bầu đất ươm cây. Trồng và lấp đất ngang cổ thân, tránh trồng quá sâu có thể làm thối rễ cây con. Sau khi trồng cần quản lý tốt độ ẩm đất nhằm giúp cho cây con mau chóng hồi phục và phát triển tốt trên vườn. Trong ngày phải tưới từ 2 – 3 lần vào thời điểm 5 giờ sáng, 10 giờ sáng và 2 giờ chiều để giữ ẩm cho cây con bén rễ tốt. Sau 10 – 15 ngày khi cây con bén rễ, giảm số lần tưới xuống còn 1 – 2 lần/ngày tùy theo điều kiện thời tiết là trời râm hay nắng gắt.

4. Kỹ thuật chăm sóc
a) Tưới nước
- Độ ẩm đầy đủ là cần thiết cho sự sinh trưởng của hoa cát tường, tuy nhiên nếu duy trì độ ẩm quá cao và thường xuyên sẽ làm cây bị nhiễm một số bệnh nguy hiểm có trong đất như bệnh lỡ cổ rễ (Rhizoctonia solani), bệnh héo vàng (Fusarium solani), bệnh thối đen rễ (Pythium spp.)…

- Khi tưới cho hoa, thời điểm tưới thích hợp vào khoảng 5 – 8 giờ sáng, tưới vào thời điểm này sẽ làm cho đất hạn chế độ ẩm trong đêm, do đó ít phát sinh bệnh hại trên cây hoa cát tường đang phát triển .

b) Tỉa nụ hoa
- Sau khi trồng từ 10 – 13 tuần cây sẽ cho nụ hoa đầu tiên. Cần tỉa bỏ nụ hoa đầu tiên này để các chồi bên ra hoa đồng loạt. Có một số giống không cần tỉa nụ hoa này mà cây vẫn cho hoa đồng loạt.

- Sau khi thu hoạch đợt bông đầu, cây sẽ có thời gian nghỉ khoảng 6 – 8 tuần mới cho bông đợt hai. Năng suất thu hoạch đợt bông lần hai chỉ bằng khoảng 20 – 30% so với năng suất lần đầu.

c) Tạo giá thể
Sau khi trồng khoảng 1 tháng, cần tiến hành giăng lưới đỡ cây. Đóng nọc và giăng lớp lưới đầu tiên, thường sử dụng lưới đan bằng kẽm hay cước nylong có kích thước mắt lưới là 15 cm x 20 cm. Lớp lưới đầu tiên đặt cách mặt đất 30 cm, lớp lưới thứ hai cách lớp đầu tiên khoảng 15 cm – 20 cm. Hai lớp lưới này giúp cây hoa không bị ngã đỗ và giữ cho cành hoa được thẳng.

d) Giảm ánh sáng
Hoa cát tường yêu cầu lượng ánh sáng cần cho quá trình quang hợp không cao, do vậy cần che một lớp lưới đen để giảm bớt từ 30 – 40% ánh sáng nhằm giúp gia tăng chiều dài cành hoa. Tuy nhiên vào các tháng mưa nhiều ở Đà Lạt (tháng 7,8,9) cần tháo bỏ lưới che để hạn chế bệnh do nấm hại phát triển, nhất là nấm mốc đen (Botrytis cineca) gây hại trên thân và lá của hoa.

e) Bón phân
- Sau khi trồng 3 tuần, bón thúc 20 kg NPK(16:16:8) + 10 kg kali trắng/1.000 m2.

- Sau khi trồng 6 tuần, bón thúc 30 kg NPK(20:20:15) + 10 kg kali trắng/1.000 m2.

- Sau khi trồng 9 tuần, bón thúc 30 kg NPK(15:5:20)/1.000 m2.

- Sau thu hoạch lần một 2 tuần, bón thúc 20 kg NPK(16:16:8) + 10 kg kali trắng/1.000 m2.

- Sau thu hoạch lần một 4 tuần, bón thúc 30 kg NPK(20:20:15) + 10 kg kali trắng/1.000 m2.

- Khi bón phân đơn chú ý nên bón đạm ở dạng phân Nitrat, thường bón lượng đạm cân bằng với lượng phân Kali vào giai đoạn từ khi trồng đến khi hoa tượng nụ. Khi hoa bắt đầu tượng nụ, nên bón phân giảm hàm lượng đạm và tăng hàm lượng kali để tăng chất lượng hoa. Trong quá trình bón không nên rãi phân sát gốc hoa, thường bón kết hợp với việc xới xáo, làm cỏ. Sau khi bón xong cần tưới đẫm cho tan phân để cây hấp thu.

- Canxi cũng cần thiết trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, tuy nhiên hoa cát tường không thích hợp khi trồng trên nền đất có hàm lượng canxi cao.

Kỹ thuật trồng Xoài Thái Lan

Kỹ thuật trồng Xoài Thái Lan


Kỹ thuật trồng xoài Thái Lan by Giống Cây Trồng | Ky thuat trong xoai Thai Lan

Xoài ĐT-15, đây là giống xoài xanh của Thái Lan có chất lượng ngon đang được thị trường ưa chuộng. Tỷ lệ đậu trái cao, cây 5 tuổi cho năng suất từ 60 - 70kg/cây. Trọng lượng trung bình của trái 0,35 - 0,4kg/trái. Trái tròn dài, hơi cong ở phía đuôi, vỏ xanh đậm có thể ăn xanh, chín đều rất ngon.


I. Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1. Thời vụ
- Vụ Xuân: Trồng vào tháng 2 – 3.

- Vụ Thu: Trồng vào tháng 8 – 10.

2. Mật độ, khoảng cách
Có thể trồng thưa, dày khác nhau tuỳ điều kiện đất đai, khả năng thâm canh, kỹ thuật cắt tỉa cành, duy trì độ lớn khung tán, xử lý ra hoa… Mật độ trồng trung bình từ 300 - 350 cây/ha (6m x 5m); trồng dày khoảng cách (4 x 5m hoặc 3 x 3,5m) mật độ 500 - 950 cây/ha.

3. Cách trồng
- Đào hố: Đào hố vuông, rộng 70 - 80 cm, sâu 50 - 70 cm.

- Bón phân lót cho 1 hố: 20 – 30kg phân chuồng mục + 1 - 2kg super lân + 0,1kg Kali + 0,3 - 0,5kg vôi bột. Trộn đều phân với đất, lấp bằng miệng hố (công việc này làm xong trước khi trồng khoảng 1 tháng).

- Cách trồng: Đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, rạch bỏ túi bầu ni lon và đặt bầu cây vào giữa hố, lấp đất vừa bằng cổ rễ, nén chặt xung quanh. Sau đó cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh lay gốc làm chết cây. Sau trồng 1 tháng cây ổn định, rạch nilon ở vết ghép để cây sinh trưởng, phát triển.

4. Chăm sóc
a) Nước tưới
Cần phải tưới nước sau trồng. Trời nắng hạn tưới 1 lần/ngày, đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện thời tiết và sinh trưởng để tưới.

b) Phân bón
- Cây còn non: Bón phân NPK, mỗi cây 0,3 – 0,5 kg, bón tăng dần theo tuổi lớn của cây. Cây cho thu hoạch quả: Mỗi cây bón 1,5 – 2,0kg phân NPK. Bón 2 lần bón/năm chủ yếu khi xoài ra hoa và sau thu hoạch quả. Để giúp cho cây ra hoa đều, tăng tỷ lệ giữ quả; có thể dùng chất kích thích ra hoa, đậu quả.

- Cách bón: Đào rãnh hoặc hốc sâu 15 - 20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.

c) Cắt tỉa, tạo hình
Bắt đầu cắt tỉa cành khi cây được 1 năm tuổi, để lại 2 – 3 cành tạo tán cây phát triển cân đối. Mỗi năm cắt tỉa một lần vào thời kỳ sau khi thu hoạch quả, cắt bỏ hết cành tăm, cành sâu bệnh, tạo cho tán cây luôn có độ thông thoáng, cân đối.

II. Thu hoạch, bảo quản
- Khi quả già, vỏ quả hồng sáng, độ chín đặc trưng của giống thì thu hoạch. Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa khi đóng vào sọt hoặc thùng không quá 5 lớp (đóng sọt phải có lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả).

- Sau khi thu hoạch vệ sinh xung quanh tán cây, cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh và tiếp tục chăm sóc.

- Đất trồng xoài phải thoả mãn các yếu tố sau: độ dầy tầng canh tác ít nhất 1 m tính từ mặt đất trồng, có cơ cấu thịt pha cát hay thịt nhẹ với tỷ lệ sét không quá 50%, tơi xốp, mực nước ngầm thấp hơn 80 cm. Độ pH KCl đất từ 5,5 - 7,2.

- Hệ thống tưới tiêu phải đảm bảo điều tiết lượng nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây xoài tương đương với lượng nước 11.000 m3/ha/năm.